🎉 Bệnh Án Uốn Ván

Slide bệnh án về uốn ván. Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.85 KB, 26 trang ) Bệnh án. Trình bày: Đỗ Trung Đức. Phạm Ngọc Dương. Nhóm 1 – tổ 5. Hành chính. •. Bố cháu bị bệnh nhiễm trùng uốn ván sau 14 ngày mới phát bệnh. Vậy bác sĩ cho cháu hỏi nhiễm trùng uốn ván khi nào khỏi bệnh? Sau bao nhiêu ngày thì bệnh khỏi và hiện giờ bố cháu phải làm sao? Cháu cảm ơn bác sĩ. Ngày 13-7, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) cho biết, bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván là các bệnh đã được chủ động phòng tránh bằng cách tiêm phòng vắc xin thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia cũng như tiêm chủng dịch vụ. Tuy bệnh rất nguy hiểm và gây thách thức trong điều trị, uốn ván là một bệnh có thể phòng ngừa được bằng việc tiêm ngừa vắcxin đầy đủ, trong đó quan trọng nhất là tiêm ngừa chủ động, trước khi bị vết thương. Việc tiêm ngừa vắcxin bắt buộc phải đầy đủ Nhập BV Lâm Đồng. – N2: Bệnh nhân xuất hiện cứng cơ nhiều, cử động khó khăn, uống sặc, được BV Lâm Đồng chẩn đoán Uốn ván. Xử trí SAT 20000UI tiêm bắp, Sedusen 10mg 4 ống TM, Penicillin G 1 ống TM. Chuyển viện BV Bệnh Nhiệt đới. – Tình trạng từ lúc nhập viện đến BỆNH UỐN VÁN - TETANUS ỆNH UỐN VÁN - TETANUS 1. Vi khuẩn uốn ván: . Clostridium tetani: Hình que. Gram dương dài 4 – 10 µm, rộng 0,4 – 0,6 µm. Có lông quanh thân. Di động tương đối trong môi trường yếm khí. Có nội bào tử. TÁC NHÂN GÂY BỆNH 1. Vi Bệnh Án Truyền Nhiễm Uốn Ván I. HÀNH CHÍNH: Họ tên bệnh nhân: Nguyễn Văn xxx. Giới: nam Tuổi: 60. Nghề nghiệp: Làm vườn. Địa chỉ: Di Linh, Lâm Đồng. Ngày nhập viện: 19h 22/10/20xx. Ngày làm bệnh án: 10h 22/10/20xx. II. LÝ DO NHẬP VIỆN: Cứng cơ. III. BỆNH SỬ (2 ngày): Tác nhân gây bệnh: Là trực khuẩn uốn ván (Clostridium tetani), gram dương, có lông quanh thân, di động tương đối trong môi trường yếm khí. Trực khuẩn thường tạo nha bào. Nha bào hình cầu tròn ở dạng tự do hoặc ở một đầu của tế bào trực khuẩn nên có hình dùi trống. Vi Về mặt bằng chung, giá của vắc xin uốn ván thường khá rẻ, tầm 80.000 – 150.000 đồng/mũi. Nếu tiêm mũi tổng hợp với các bệnh lý khác thì chi phí sẽ cao hơn. Tốt hơn hết, bạn nên trao đổi với đơn vị y tế dự định tiêm phòng để biết thông tin cụ thể về khoản IxMXGdG. Uốn ván là nhiễm độc cấp tính độc tố thần kinh do Clostridium tetani. Các triệu chứng là co cứng liên tục tự phát của cơ. Sự co cứng của khối cơ cắn được gọi là cứng hàm. Chẩn đoán là lâm sàng. Điều trị bằng globulin miễn dịch uốn ván người và điều trị hỗ khuẩn uốn ván nằm trong các bào tử tồn tại trong đất và phân gia súc, tồn tại bền vững theo thời gian. Tỷ lệ mắc bệnh liên quan trực tiếp đến mức độ tiêm chủng trong cộng đồng, cho thấy hiệu quả của các nỗ lực phòng ngừa. Ở Mỹ, mức độ có miễn dịch có xu hướng thấp hơn ở các nhóm tuổi lớn nhân bị bỏng, vết thương phẫu thuật, hoặc có tiền sử lạm dụng ma túy đặc biệt dễ bị uốn ván. Tuy nhiên, uốn ván có thể bị nhiễm từ các vết thương nhỏ hoặc thậm chí vết thương không rõ ràng. Tuy nhiên, uốn ván có thể bị nhiễm từ các vết thương nhỏ hoặc thậm chí vết thương không rõ ràng Nhiễm trùng cũng có thể xảy ra sau khi sinh uốn ván ở mẹ và ở trẻ sơ sinh uốn ván sơ sinh do hâu quả cảu việc cắt rốn sau đẻ và chăm sóc rốn không an toàn. Tiểu đường và tiền sử ức chế miễn dịch có thể là những yếu tố nguy cơ của uốn ván. 1. Faulkner A, Tiwari T Chương 16 Uốn ván Trong Cẩm nang dành cho giám sát các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin, do SW Roush, LM Baldy, MA Kirkconnell Hall biên tập. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh, Trung tâm Tiêm chủng và Bệnh đường hô hấp Quốc gia. Trang được xem lại lần cuối 06/02/2020. Bào tử C. tetani thường xâm nhập qua các vết thương bị ô nhiễm. Các biểu hiện lâm sàng của uốn ván do độc tố exotoxin tetanospasmin được sản sinh ra khi vi khuẩn bị ly giải. Độc tố xâm nhập vào đầu tận cùng thần kinh ngoại vi, liên kết không thể đảo ngược, sau đó đi lan dọc theo các sợi trục và synap thần kinh, và cuối cùng vào đến hệ thần kinh trung ương. Kết quả là, phóng thích các chất ức chế dẫn truyền từ các đầu dây thần kinh bị chặn, do đó gây ra sự kích thích cơ không mong muốn do acetylcholine và co cứng cơ toàn thân, thường kèm theo các cơn giật trên nền co cứng. Phá hủy hệ thống thần kinh thực vật và mất kiểm soát sư phóng thích catecholamine vỏ thượng thận gây ra sự bất ổn hệ thần kinh thực vật và tình trạng cường giao cảm. Một khi đã liên kết, độc tố không thể trung hòa thường nhất, uốn ván là bệnh lý toàn thân, ảnh hưởng đến cơ xương trên toàn cơ thể. Tuy nhiên, uốn ván đôi khi có thể khu trú ở nhóm cơ gần đường vào vết thương. Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh uốn ván Thời kỳ ủ bệnh từ 2 đến 50 ngày trung bình, 5 đến 10 ngày. Các triệu chứng của uốn ván bao gồm Cứng hàm thường gặp nhấtkhó nuốtBồn chồnCáu gắtCứng cổ, cứng tay, hoặc chânLưng uốn cong uốn người ra sauĐau đầu Đau họngĐộc tính co thắt Sau đó, bệnh nhân gặp khó khăn khi mở hàm trismus. Co thắt Sự co thắt cơ tạo ra một biểu hiện đặc trưng với một nụ cười mếu và nhíu lông mày risus sardonicus. Có thể xảy ra tình trạng cứng hoặc co thắt cơ bụng, cổ và lưng và đôi khi là opisthotonos cơ thể bị cứng toàn thân kèm theo cong lưng và cổ. Co thắt cơ tròn gây ra bí đái hoặc táo bón. Khó nuốt có thể ảnh hưởng đến dinh dưỡng. Đau đặc trưng, co cứng toàn thân kèm theo vã mồ hồi khi có kích thích tối thiểu như chạm nhẹ, tiếng ồn hoặc vận động. Trạng thái tinh thần thường tỉnh táo, nhưng hôn mê có thể xảy ra khi có các cơn giật liên tục. Trong cơn co cứng toàn thân, bệnh nhân không thể nói hoặc khóc vì cứng thành ngực hoặc co thắt thanh môn. Gãy xương do co cứng kéo dài hiếm khi xảy giật cũng gây ảnh hưởng đến hô hấp, gây xanh tím hoặc tử vong do ngạt. Rối loạn thần kinh thực vật Nhiệt độ chỉ tăng ở mức vừa phải trừ khi có biến chứng nhiễm trùng kèm theo, ví dụ như viêm phổi. Tăng nhịp tim và nhịp thở. Phản xạ quá mức. Tăng nhịp tim và nhịp thở Phản xạ quá mức. Uốn ván dai dẳng có thể có biểu hiện thần kinh thực vật rất dễ khởi phát và phản ứng quá mức, bao gồm các giai đoạn tăng huyết áp, nhịp tim nhanh và kích thích cơ tim. Nguyên nhân gây tử vong Suy hô hấp là nguyên nhân gây tử vong phổ biến nhất. Co thắt thanh quản và co cứng của thành bụng, cơ hoành và cơ ngực gây ngạt. Thiếu máu cũng có thể gây ngừng tim, và co thắt thanh quản dẫn đến hít phải dịch tiết từ miệng dấn đến viêm phổi, góp phần gây tử vong do thiếu oxy Thuyên tắc phổi cũng có thể xảy ra. Thuyên tắc phổi cũng có thể xảy ra. Tuy nhiên, xác định nguyên nhân tử vong ngay lập tức có thể không rõ ràng. Uốn ván cục bộ Trong uốn ván cục bộ, có sự co thắt của các cơ gần vết thương nhưng không có khít hàm; co cứng cơ có thể kéo dài trong vài ván đầu là một dạng uốn ván cục bộ ảnh hưởng đến dây thần kinh sọ. Phổ biến hơn ở trẻ em; bệnh có thể xảy ra trong viêm tai giữa mãn tính hoặc có thể do vết thương ở đầu. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở Châu Phi và Ấn Độ. Tất cả các dây thần kinh sọ có thể được liên quan, đặc biệt là dây 7. Uốn ván đầu có thể trở thành uốn ván toàn thể. Uốn ván sơ sinh Uốn ván ở trẻ sơ sinh thường là uốn ván toàn thể và thường gây tử vong. Nó thường bắt đầu từ gốc rốn không được làm sạch ở trẻ sinh ra từ những bà mẹ không được tiêm phòng uốn ván đầy đủ. Khởi phát trong vòng 2 tuần đầu tiên của cuộc đời, đặc trưng bởi sự co cứng, co thắt, và ăn kém. Điếc hai bên có thể xảy ra ở trẻ sống sót. Đánh giá lâm sàngUốn ván nên được cân nhắc khi bệnh nhân có co cứng cơ đột ngột không rõ nguyên nhân hoặc co thắt, đặc biệt nếu họ có tiền sử vết thương gần đây hoặc có các yếu tố nguy cơ của uốn ván có thể bị nhầm với bệnh viêm não màng não do căn nguyên vi khuẩn hoặc virut, nhưng kết hợp sau đây gợi ý uốn ván Cảm giác không thay đổidịch não tủy bình thườngco cơKhít hàm phải được phân biệt với áp xe quanh amydan hoăc áp xe sau họng hoặc bất kì nguyên nhân khu trú nào khác. Phenothiazines có thể gây ra tình trạng co cứng giống như uốn ván ví dụ, phản ứng dystonic, hội chứng an thần kinh ác tính.C. tetani đôi khi có thể được nuôi cấy từ vết thương, nhưng nuôi cấy thường không nhạy; chỉ có 30% bệnh nhân uốn ván có kết quả cấy dương tính. Ngoài ra, nuôi cấy dương tính giả có thể xảy ra ở những bệnh nhân không bị uốn ván. Uốn ván có tỷ lệ tử vong Trên toàn thế giới 50%Ở người lớn không điều trị 15 đến 60%Ở trẻ sơ sinh, ngay cả khi được điều trị 80 đến 90%Tỷ lệ tử vong cao nhất ở người lớn tuổi và người nghiện ma lượng kém hơn nếu thời kỳ ủ bệnh ngắn và triệu chứng tiến triển nhanh hoặc nếu điều trị bị trì hoãn. Quá trình diễn biến có xu hướng nhẹ hơn khi không có sự tập trung của nhiễm việc sử dụng chăm sóc hỗ trợ hiện đại, hầu hết bệnh nhân đều hồi phục. Điều trị hỗ trợ, đặc biệt hỗ trợ hô hấpMở ổ vết thươngKháng độc tố uốn vánBenzodiazepin cho co thắt cơMetronidazole hoặc penicillinĐôi khi thuốc cho rối loạn thần kinh thực vậtĐiều trị uốn ván đòi hỏi duy trì hệ thống thông khí đầy đủ. Các can thiệp bổ sung bao gồm việc sử dụng globulin miễn dịch uốn ván TIG người sớm và đầy đủ để vô hiệu hóa độc tố chưa liên kết; ngăn ngừa sản xuất độc tố thêm; an thần; kiểm soát co thắt cơ, nhiễm độc thêm, cân bằng dịch, và nhiễm trùng lặp đi lặp lại; và chăm sóc điều dưỡng liên tục. IVIG có chứa chất kháng độc tố uốn ván, có thể được sử dụng nếu không có TIG. Bệnh nhân nên được giữ trong một căn phòng yên tĩnh. Vàinguyên tắc hướng dẫn tất cả các can thiệp điều trị Trung hòa độc tố không liên kết ngoài hệ thống thần kinh trung ương bằng globulin miễn dịch uốn ván ngườiTiêm phòng bằng cách tiêm độc tố uốn ván, chăm sóc để tiêm thuốc vào cơ thể khác với kháng độc tốGiảm thiểu tối đa ảnh hưởng của độc tố đã có trong hệ thống thần kinh TW Bụi bẩn và mô chết thúc đẩy C. tetani tăng trưởng nhanh chóng nên việc mở ở ổ vết thương, đặc biệt là vết thương đâm sâu, là rất cần thiết. Thuốc kháng sinh không phải là chất thay thế cho quá trình khử trùng và chủng ngừa đầy đủ nhưng thường được sử dụng. Lợi ích của chất kháng độc tố có nguồn gốc từ con người phụ thuộc vào số lượng tetanospasmin đã liên kết với màng synap - chỉ độc tố tự do mới trung hòa được. Đối với người lớn, TIG 3000 đến 6000 đơn vị tiêm bắp 1 lần duy nhất; khối lượng lớn này có thể được chia nhở và tiêm vào các vị trí riêng biệt xung quanh vết thương. Liều lượng có thể dao động từ 500 đến 6000 đơn vị, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết thương, nhưng một số tác giả cho rằng 500 đơn vị là độc tố có nguồn gốc động vật ít được ưa chuộng hơn vì nó không duy trì được nồng độ đủ kháng độc tố trong huyết thanh của bệnh nhân và nguy cơ mác bệnh huyết thanh rất đáng kể. Nếu phải sử dụng huyết thanh ngựa, liều thông thường là đơn vị tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch Cẩn trọng Xem Xét nghiệm da Xét nghiệm da .Nếu cần, IVIG hoặc kháng độc tố có thể được tiêm trực tiếp vào vết thương, nhưng việc tiêm này không quan trọng bằng việc chăm sóc vết thương tốt. Thuốc được sử dụng để kiểm soát co là điều trị cơ bản để kiểm soát co cứng và co thắt. Chúng ngăn chặn sự tái hấp thu của một chất ức chế dẫn truyền thần kinh nội sinh, axit gamma-aminobutyric GABA, ở thụ thể GABAA. Diazepam có thể giúp kiểm soát cơn co giật, giảm co cứng và gây ngủ. Liều dùng thay đổi và đòi hỏi phải tính toản chuẩn một cách tỉ mỉ và quan sát chặt chẽ. Các trường hợp nặng nhất có thể cần 10 đến 30 mg, tĩnh mạch, 1 đến 4 giờ một lần. Các trường hợp ít nghiêm trọng hơn có thể kiểm soát được với diazepam uống 5 đến 10 mg mỗi 2 đến 4 h. Liều dùng thay đổi theo tuổi Trẻ em > 30 ngày và 7 tuổi cần 3 lần tiêm. Vắc-xin có thể chỉ là độc tố uốn ván TT, nhưng độc tố này thường được kết hợp điển hình với bạch hầu và/hoặc ho gà. Thuốc chủng ngừa cho trẻ em có các thành phần bạch hầu và ho gà DTaP, DT với liều cao hơn so với vắc xin người lớn Tdap, Td.Phụ nữ mang thai nên được cho Tdap trong mỗi lần mang thai, ưu tiên ở tuần thai thứ 27 đến 36 tuần bất kể khi nào họ được chủng ngừa lần cuối; bào thai có thể phát triển miễn dịch thụ động từ vắc xin được đưa vào ở thời điểm bệnh uốn ván không gây miễn dịch nên những bệnh nhân đã khỏi bệnh uốn ván nên được tiêm phòng. Dự phòng uốn ván trong điều trị vết thương thường quy Lịch sử của Toxoid uốn vánSạch sẽ, vết thương nhỏTất cả các vết thương khác*Td†TIG‡Td†TIG‡ Không rõ hoặc 10 năm kể từ lần dùng liều cuốiKhông Có nếu > 5 năm kể từ lần dùng liều cuốiKhông * Chẳng hạn như nhưng không giới hạn các vết thương bị ô nhiễm bẩn, phân, đất hoặc nước bọt; vết thương đâm; vết thương đè ép; và vết thương do tên lửa, vết bỏng, hoặc tê cóng.† Đối với bệnh nhân ≥ 10 tuổi chưa được tiêm Tdap trước đó, nên dùng một liều duy nhất Tdap thay vì một liều tăng cường Td. Trẻ em < 7 tuổi nên được tiêm DTaP hoặc, nếu vacxin ho gà bị chống chỉ định, DT. Trẻ em từ 7-9 tuổi nên được cho Td.‡ TIG 250-500 đơn vị IM. Những người bị nhiễm HIV hoặc suy giảm miễn dịch nặng có những vết thương bị nhiễm bẩn kể cả những vết thương nhỏ cũng nên được tiêm TIG, bất kể tiền sử của họ về tiêm phòng uốn = biến độc tố bạch hầu và uốn ván đối với trẻ em; DTaP = biến độc tố bạch hầu và uốn ván, ho gà đối với trẻ em; Td = biến độc tố uốn ván và bạch hầu được hấp phụ đối với người lớn; Tdap = biến độc tố uốn ván và bạch hầu, ho gà cho người lớn; TIG =globulin miễn dịch uốn ván người. Uốn ván là do một chất độc gây ra bởi Clostridium tetani trong các vết thương bị ô tố uốn ván ngăn chặn sự giải phóng các chất ức chế dẫn truyền thần kinh, gây cứng cơ nói chung với co thắt không liên tục; co giật và sự mất ổn định tự chủ có thể xảy lệ tử vong là từ 15 đến 60% ở người lớn không điều trị và từ 80 đến 90% ở trẻ sơ sinh ngay cả khi được điều ngừa độc tố được giải phóng bằng cách loại bỏ vết thương và cho thuốc kháng sinh ví dụ penicillin, doxycycline và trung hòa độc tố không liên kết với globulin miễn dịch uốn ván ở benzodiazepine tiêm tĩnh mạch cho chứng co thắt cơ, và sử dụng thuốc phong bế thần kinh cơ và thở máy khi cần thiết cho suy hô hấp do co thắt ngừa uốn ván bằng cách làm theo các khuyến cáo tiêm chủng định kỳ. Uốn ván 03/07/2012 2333 139,106 293,710 Bệnh uốn ván là một nhiễm khuẩn nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, đặc trưng bởi tăng trương lực cơ và các cơn co cứng, gây ra bởi một độc tố protein mạnh là tetanospasmin do Clostridium tetani tiết ra. Bệnh uốn ván là một nhiễm khuẩn nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, đặc trưng bởi tăng trương lực cơ và các cơn co cứng, gây ra bởi một độc tố protein mạnh là tetanospasmin do Clostridium tetani tiết ra. Bệnh uốn ván xuất hiện rải rác ở các vùng nông thôn; ở các nước không có Chương trình tiêm chủng mở rộng thì bệnh ở trẻ sơ sinh và người trẻ tuổi chiếm tỷ lệ cao. Bệnh uốn ván thường xảy ra sau một tổn thương cấp tính như vết chích da, vết rách da, vết trầy da, bỏng, viêm tai giữa, phẫu thuật, sảy thai, sinh đẻ... Uốn ván là một bệnh nhiễm trùng cấp tính có tỷ lệ tử vong cao do ngoại độc tố của trực khuẩn uốn ván Clostridium tetani gây ra. Khi mắc bệnh uốn ván tỷ lệ tử vong rất cao 25 – 90% . Đặc biệt là uốn ván rốn ở trẻ sơ sinh, tử vong trên 95%. Trực khuẩn này phát triển tại vết thương trong điều kiện yếm khí, sau đó giải phóng ngoại độc tố vào máu và tấn công vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm cho bệnh nhân bị co cứng cơvà trên nền cứng đó xuất hiện các cơn co giật. Thời kỳ ủ bệnh khoảng 4 – 21 ngày. Tử vong do suy hô hấp, rối loạn thần kinh thực vật và ngừng tim. I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH UỐN VÁN Do bị trầy xát và viết thương tiếp xúc trực tiếp với trực khuẩn uốn ván Clostridium tetani có trong đất, cát bụi, phân trâu bò ngựa và gia cầm, cống rãnh, dụng cụ phẫu thuật không tiệt trùng kỹ …, xâm nhập vào các vết thương, vết xây xước phát triển thành ổ nhiễm trùng gây bệnh uốn ván. Những người có nguy cơmắc cao - Người làm vườn - Người làm việc ở các trang trại, các nông trường chăn nuôi gia súc và gia cầm - Người dọn vệ sinh cống rãnh, chuồng trại. - Công nhân xây dựng các công trình. - Bộ đội và thanh niên xung phong. Đặc điểm của vi khuẩn gây bệnh Vi khuẩn là trực khuẩn gram dương, di động, kỵ khí, có hình bầu dục, không có màu, nha bào có mặt ở khắp nơi trên thế giới trong đất, môi trường kỵ khí, phân súc vật, phân người. Nha bào có thể tồn tại nhiều năm trong một số môi trường và kháng với nhiều loại thuốc khử khuẩn, không bị tiêu diệt khi bị đun sôi 20 phút. Nhưng khi ở dạng các tế bào thực vật, chúng dễ dàng bị khử hoạt tính và nhạy cảm với nhiều kháng sinh như metronidazol, penicillin... Trực khuẩn uốn ván II. CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG Bệnh khởi phát sau chấn thương, trung bình là 7 ngày; 15% số trường hợp khởi phát bệnh trong vòng 3 ngày và 10% khởi phát bệnh sau 14 ngày. Uốn ván toàn thân là thể bệnh hay gặp nhất. Dấu hiệu điển hình là tăng trương lực cơ và co cứng toàn thân. Lúc đầu tăng trương lực cơ ở các cơ nhai, nuốt khó và cứng hay đau các cơ cổ, vai, lưng. Kế tiếp các cơ khác cũng bị tăng trương lực gây ra cứng bụng và cứng các cơ ở gốc chi; do co cứng liên tục các cơ mặt, tạo ra một vẻ mặt nhăn nhó hay kiểu cười khẩy, cười nhăn, co cứng cơ lưng tạo ra một tư thế lưng cong ưỡn lưng. Ở một số bệnh nhân xuất hiện các cơn co cứng toàn thân kịch phát, với cường độ mạnh, những cơn đau làm cho bệnh nhân xanh tím và đe dọa ngừng thở. Các cơn này có thể lặp đi lặp lại, có thể là tự phát hoặc do kích thích dù là rất nhẹ. Ở mức độ nhẹ, bệnh nhân chỉ bị tình trạng cứng cơ và có một vài cơn co cứng hoặc không có cơn co cứng nào. Thể vừa có dấu hiệu cứng hàm, khó nuốt, cứng cơ và các cơn co cứng. Trường hợp nặng, bệnh nhân bị nhiều cơn kịch phát, có thể bị sốt phần lớn không sốt. Các phản xạ gân sâu tăng. Nuốt khó hoặc chướng bụng làm cho bệnh nhân ăn uống khó khăn. Rối loạn hệ thần kinh thực vật như huyết áp tăng thất thường, hay thường xuyên; nhịp tim nhanh, loạn nhịp tim; sốt cao, vã mồ hôi. Một số biến chứng về tim mạch có thể gặp là hạ huyết áp và chậm nhịp tim, đôi khi xuất hiện ngừng tim đột ngột. Những biến chứng khác là viêm phổi, gãy xương, vỡ cơ, loét do nằm và ly giải cơ vân. Uốn ván ở trẻ sơ sinh, thường khởi phát trong 2 tuần đầu sau khi sinh với các dấu hiệu trẻ bỏ bú, cứng cơ và các cơn co cứng; thường là uốn ván toàn thân và dễ dẫn đến tử vong nếu không điều trị. Uốn ván cục bộ ít gặp, biểu hiện chỉ giới hạn ở các cơ gần vết thương, đây là thể nhẹ, tiên lượng tốt. Uốn ván đầu là một hình thái hiếm gặp của uốn ván cục bộ, diễn ra sau chấn thương đầu hay nhiễm khuẩn tai. Các triệu chứng gồm cứng hàm, rối loạn chức năng một hoặc nhiều dây thần kinh sọ, thường gặp là dây số 7, tỷ lệ tử vong cao. III. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ Nguyên tắc điều trị là diệt trừ vi khuẩn, trung hòa độc tố, ngăn ngừa các cơn co cứng cơ, theo dõi và xử trí hỗ trợ hô hấp. Bệnh nhân phải được chăm sóc trong một căn phòng yên tĩnh để giám sát và theo dõi tim, phổi thường xuyên, hạn chế mọi sự kích thích. Duy trì và bảo vệ đường thở. Xử lý vết thương sạch sẽ, loại bỏ triệt để các dị vật. - Dùng kháng sinh tiêu diệt tận gốc tế bào thực vật là nguồn sản sinh ra độc tố. Có thể dùng một trong các thuốc như sau penicillin 10 – 12 triệu đơn vị tiêm mỗi ngày x 10 ngày; metronidazol 500mg mỗi 6 giờ hay 1g mỗi 12 giờ; dùng clindamycin, erythromycin. Đồng thời phải điều trị đặc hiệu với nhiễm khuẩn do các vi khuẩn khác gây ra. - Dùng kháng độc tố uốn ván để vô hiệu hóa độc tố lưu hành trong máu và độc tố ở vết thương nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong; kịp thời dùng globulin miễn dịch uốn ván của người. Tốt nhất là nên tiêm kháng độc tố trước khi điều trị vết thương. - Kiểm soát các cơn co cứng Dùng một hay phối hợp các thuốc sau đây diazepam được sử dụng phổ biến lorazepam, barbiturat, chlorpromazin. Thuốc phong bế thần kinh cơ kết hợp với thở máy để điều trị các cơn co cứng không đáp ứng với thuốc hoặc các cơn co cứng đe dọa ngừng thở. - Điều trị hỗ trợ Mở khí quản có thể kết hợp hoặc không kết hợp với thở máy; bù nước và điện giải; tăng cường dinh dưỡng bằng truyền dịch hoặc cho ăn qua ống thông vào dạ dày; vật lý trị liệu để đề phòng cứng cơ; dùng heparin và các chất kháng đông khác để đề phòng tắc mạch phổi; theo dõi chức năng của thận, bàng quang và ruột; phòng chống chảy máu và loét đường tiêu hóa. - Dùng vaccin gây miễn dịch chủ động Tất cả bệnh nhân phải được tiêm vaccin sau khi bệnh đã phục hồi. Uốn ván là một bệnh lý phổ biến, xuất hiện ở mọi nơi và mọi lứa tuổi, là bệnh nhiễm trùng cấp tính do một loại vi khuẩn có tên Clostridium tetani gây ra bởi độc tố của chúng. Uốn ván có thể mắc phải ở bất cứ thời gian nào trong năm, có khả năng gây tử vong. Vậy uốn ván có điều trị được không? Và phòng ngừa uốn ván bằng cách nào? Uốn ván là một bệnh lý nhiễm trùng cấp tính, xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều thời điểm trong năm và ở mọi lứa tuổi, có thể dẫn đến tử vong do co cứng các cơ đặc biệt là cơ hô hấp. Tuy nhiên, đây không phải là bệnh khó phòng ngừa và không có phương hướng điều trị. Do đó, để bảo đảm an toàn sức khoẻ bản thân và gia đình, trước tiên mỗi người cần có ý thức tiêm ngừa khi mang thai và sau khi sinh cho trẻ. Bên cạnh đó, cũng chú ý hướng xử trí đúng khi có các yếu tố nguy cơ nghi ngờ nhiễm uốn nhân của uốn vánClostridium tetani – trực khuẩn, gram dương, yếm khí. Đây là tác nhân gây nên bệnh uốn ván. Chúng có khả năng gây bệnh sau 5 năm tồn tại trong đất vì chúng có khả năng tạo nha bào và nha bào uốn ván rất bền vững. Các dung dịch sát khuẩn như formalin, phenol có khả năng diệt nha bào của vi khuẩn uốn ván sau 8-10 những vết thương bị nhiễm trùng hoặc vết thương hở kết hợp với điều kiện thích hợp, nha bào của vi khuẩn uốn ván sẽ sinh sôi, phát triển và bắt đầu gây bệnh. Các bào tử của vi khuẩn uốn ván xâm nhập qua da, phát triển và tiết ra ngoại độc tố bám vào các đuôi sợi thần kinh, từ đó các tín hiệu hoá học từ não và tuỷ sống đến cơ bị ngăn chặn khi chất độc lan dần đến tuỷ sống và não bộ – cơ quan điều khiển cơ thể. Bệnh nhân có thể dẫn đến tử vong do cơ bị co giật với trẻ sơ sinh, uốn ván thường do quá trình cắt và chăm sóc dây rốn trẻ không đảm bảo, bào tử vi khuẩn xâm nhập qua dây rốn và gây bệnhVi khuẩn uốn ván sống ở đâu?Chủng vi khuẩn uốn ván tồn tại được khá lâu trong môi trường bên ngoài và có mặt ở mọi nơi, đặc biệt là các ổ chứa nhưRuột của súc vật hoặc kể cả ở người Vi khuẩn cư trú ở đây và bình thường không gây bệnh cho đối tượng mang nóĐất và các đồ vật bị nhiễm phân súc vật hặc phân ngườiNhững dấu hiệu và triệu chứng của uốn vánĐối với những ca uốn ván thông thường Co cứng cơ nhai và một số cơ ở mặt khiến bệnh nhân xuất hiện nét mặt “cười nhăn”. Bên cạnh đó, cơ gáy, cơ lưng, cơ bụng, cơ hô hấp cũng bị co cứng hoặc trong một số trường hợp bị co cứng vùng tổn thương hay còn gọi là co cứng cục bộ, có tiên lượng tốt hơn và tỉ lệ tử vong các cơ không có khả năng co giãn như ban đầu nên tư thế bệnh nhân cũng xuất hiện những bất thường, tuỳ vào nhóm cơ co cứng chiếm ưu thế mà bệnh nhân sẽ có tư thế và triệu chứng đặc trưng Tư thế ưỡn cong người hoặc phẳng như tấm ván hay cơ hô hấp bị ảnh hưởng gây khó thở,…. Tư thế cong người do cơ cơ nguồn InternetĐối với trường hợp trẻ sơ sinh Bệnh thường xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 28 sau sinh, trẻ sẽ xuất hiện dấu hiệu cứng hàm, co cứng toàn thân khiến trẻ không bú đượcBên cạnh đó, việc cứng cơ mạnh, đột ngột và kéo dài dẫn đến một số hậu quả nghiêm trọng như đau cơ, rách cơ, gãy xương hoặc xuất hiện các triệu chứng khác như sốt, nhức đầu, khó chịu, bồn chồn và các dấu hiệu bí tiểu, nóng rát khi đi cơ mắc phải và đường lây truyền ?Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh uốn vánNhững người suy giảm miễn dịch, thiếu miễn dịch do chưa tiêm ngừa uốn vánMô bị tổn thươngSự xuất hiện của vi khuẩn gây nhiễm bệnh khácXuất hiện sưng tấy quanh vết thươngVết thương đau buốt do bào tử Yếu tố nguy cơ nhiễm vi khuẩn uốn ván nguồn InternetBệnh uốn ván không lây từ người sang người, chúng chỉ có thể bị nhiễm qua vết thương bị nhiễm trùng. Trong một số trường hợp tổ chức của cơ thể bị hoại tử hoặc dị vật xâm nhập vào cơ thể bị nhiễm bẩn tạo môi trường yếm khí cho bào tử sinh sôi và phát trí nếu dẫm phải vật bẩn có thể gây uốn vánTrong dân gian, người ta thường cho rằng dẫm đinh sắt gỉ sét thường gây ra uốn ván, tuy nhiên không phải chỉ mỗi đinh sắt có khả năng đó mà bất cứ vật nhiễm bẩn nào đi vào cơ thể chúng ta qua vết thương đều gây ra uốn ván. Do đó, cách xử trí nhanh nhất khi đẫm phải vật nhiễm bẩn làNếu vết thương nông và nhỏLàm sạch và sát khuẩn vết thương ngâm vết thương vào nước ấm và xà phòng trong 15 phút. Nếu vết thương có chảy máu tức là đã loại bỏ được vi trùng, sau đó bôi thuốc đỏBăng vết thươngNếu vết thương sâu và rộngTránh để vật nhọn di chuyển hay đâm sâu hơn và di chuyển đến cơ sở y tế trong thời gian sớm ý Không cố gắng để rút vật nhọn ra khỏi cơ thểĐiều trị bệnh uốn vánLoại bỏ ngoại độc tố và ngăn chặn các cơn uốn ván là cách tốt nhất để điều trị có hiệu quả với bệnh uốn ván. Thông thường, bác sĩ sẽ dựa vào triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán và điều trị, các xét nghiệm, cận lâm sàng ít có giá trị trong bệnh có hướng điều trị hiệu quả tốt nhất, bệnh nhân nên được đưa đến các trung tâm y tế trong thời gian sớm nhất để được hướng dẫn và điều ngừa uốn ván Tiêm vaccin ngừa uốn ván là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất. Nên chủ động phòng ngừa bằng cách tiêm ngừa uốn ván sơ sinh cho trẻ. Tiêm ngừa uốn ván nguồn InternetLiều tiêm ngừaĐối với phụ nữ có thai tối thiểu 2 liều vaccin cách nhau ít nhất 1 tháng và lần 2 được tiêm ngừa trước khi sinh 1 tháng. Những lần có thai sau cần tiêm nhắc lại trước khi sinh khoảng 1 với trẻ sơ sinh sẽ được tiêm ngừa vaccin uốn ván kết hợp với một số loại vaccin khác, như ho gà, bạch hầu,…Với các trường hợp vết thương bị nhiễm bẩn, chứa dị vật có nguy cơ bị nhiễm uốn ván, nếuVết thương nhẹ, có tiêm vaccin cách đây hơn 10 năm cần phải tiêm nhắc lại 1 thương nặng và trong vòng 5 năm gần đây chưa tiêm vaccin uốn ván thì cần tiêm nhắc lại 1 liều uốn ván trong ngày bị sách các địa điểm tiêm chủng uy tínThành phố Hồ Chí MinhBệnh viện Pasteur HCMĐịa chỉ 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, TP. Hồ Chí MinhĐiện thoại 84-8 38230352Website pasteurhcmBệnh viện Từ DũĐịa chỉ 284 Cống Quỳnh, Quận 1, TP. HCMĐiện thoại 08 54 042 829 – 38 395 117 – 38 392 722Website TuduTrung tâm tiêm chủng VNVCĐịa chỉVNVC Hoàng Văn ThụVNVC Cantavil An Phú VNVC Lê Đại HànhĐiện thoại 1800 6595WebsiteVNVCHà NộiBệnh viện nhi Trung ươngĐịa chỉ 18/879 La Thành, Đống ĐaLiên hệ 0243 8343 700Website bvnhiTrung tâm tiêm chủng vacxin VNVCĐịa chỉ 180 Trường chinh, Quận Đống ĐaLiên Hệ 0243 8824 666WebsiteVNVCĐà NẵngTrung tâm tiêm chủng vacxin VNVC Đà NẵngĐịa chỉ Lô KV Bắc Tượng đài, Hòa Cường Bắc, TP, Đà Nẵng Liên Hệ 0243 8824 666Website VNVCBạn đọc có thể tham khảo thêm các bài viết về sức khoẻ tại đâyTất cả những điều cần biết về Virus corona – virus viêm phổi Vũ HánÁp xe gan Triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trịPhì đại tuyến tiền liệt Triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trịHãy tiếp tục theo dõi BlogAnchoi để tham khảo những bài viết hay về sức khỏe bạn nhé!

bệnh án uốn ván